NẾU ĐÃ TIÊM SỞI LÚC 9th tiếp đó tiêm SỞI DỊCH VỤ LÚC 15th

Nhiều nguy cơ khi trẻ chậm chích vắc-xin ngừa sởi

Báo Phụ Nữ Online – 30/03/2012 02:00 1 tin đăng lại

PN – Theo lịch tiêm chủng mở rộng, trẻ chín tháng tuổi cần phải chích mũi vắc-xin ngừa sởi đầu tiên. Thế nhưng, nhiều trẻ lại được hẹn chích ngừa vắc-xin sởi lúc 12 tháng tuổi. Các bác sĩ khuyến cáo, trẻ từ 9-12 tháng tuổi dễ mắc bệnh sởi và để lại nhiều biến chứng như: viêm phổi, viêm tai dẫn đến điếc…

Nên tiêm vắc-xin sởi lúc 9 tháng tuổi

Vào vai một phụ huynh có con tám tháng tuổi bị mất sổ hẹn chích vắc-xin, chúng tôi nhờ tư vấn về lịch chích ngừa bệnh sởi, một nam tiếp tân ở BV Phụ sản ĐH Y Dược TP.HCM (đường Hoàng Văn Thụ, Q.Tân Bình, TP.HCM) tư vấn: “Sởi một năm (tiêm lúc 12 tháng tuổi – PV) thì có vắc-xin, sởi chín tháng (miễn phí) không có”. Tương tự, khi chúng tôi ghé Khoa Nhi, BV FV (Q.7, TP.HCM), một nữ tiếp tân cho biết, bé 12 tháng tuổi mới chích vắc-xin ngừa (sởi + quai bị + rubella). Chúng tôi ngạc nhiên hỏi, tại sao có nơi chích sởi lúc trẻ chín tháng, nhưng ở đây lại chích lúc 12 tháng, nữ nhân viên này bâng quơ nói: “Không có sổ chủng ngừa để chúng tôi kiểm tra, không trả lời cho anh được”. Còn tại BV Phụ sản Quốc tế Sài Gòn (Q.1), một nhân viên ở đây cho biết, cơ sở này chích vắc-xin ngừa sởi ba trong một (sởi + quai bị + rubella) lúc trẻ 12 tháng tuổi.

 

Phụ huynh nên đưa trẻ chích vắc-xin ngừa sởi từ lúc chín tháng tuổi

Các bác sĩ chuyên chủng ngừa ở hai BV Nhi Đồng tại TP.HCM cho biết, nhiều phụ huynh đến đây khám bệnh, tiêm chủng cho con mới phát hiện con của họ chưa được chích ngừa sởi lúc chín tháng tuổi. Theo các phụ huynh này, do các BV hẹn trẻ đến 12 tháng tuổi mới chích vắc-xin ba trong một. Đây là loại vắc-xin dịch vụ, mỗi mũi có giá từ 120.000đ -140.000đ; trong khi vắc-xin nằm trong chương trình tiêm chủng mở rộng lại hoàn toàn miễn phí.

BS Trương Hữu Khanh – Trưởng khoa Nhiễm, BV Nhi Đồng I TP.HCM lý giải, chờ trẻ đến 12 tháng tuổi mới chích vắc-xin ngừa sởi là không phù hợp thực tế với dịch bệnh hiện nay của Việt Nam. Tùy vào tình hình dịch bệnh khác nhau mà mỗi quốc gia có chiến lược quy định độ tuổi chích ngừa khác nhau. Ở các nước phát triển, bệnh sởi không phổ biến nên trẻ được chích vắc-xin khi 15 tháng tuổi, trong khi các quốc gia châu Phi do dịch bệnh nhiều, trẻ được chích lúc sáu tháng tuổi. Riêng Việt Nam, trước đây, tình hình bệnh sởi không nhiều nên Bộ Y tế khuyến cáo trẻ ngừa sởi lúc 12 tháng tuổi. Khi số trẻ dưới 12 tháng tuổi mắc bệnh sởi gia tăng, chiếm từ 10-20% tổng số ca mắc sởi thì Bộ Y tế đẩy lùi thời gian chích vắc-xin sởi mũi đầu tiên xuống còn chín tháng tuổi. Nhờ triển khai chích sớm nên từ năm 2009 đến nay, trẻ mắc bệnh sởi giảm dần.

ThS-BS Nguyễn Ngọc Anh Tuấn – Trưởng phòng Khám bệnh và tiêm ngừa, Viện Pasteur TP.HCM khuyến cáo, vắc-xin dịch vụ và vắc-xin chương trình tiêm chủng mở rộng đều an toàn và hiệu quả như nhau. Trẻ cần tiêm ngừa sớm để được bảo vệ sớm, nếu chích vắc-xin dịch vụ, khả năng trẻ có thể dễ bị sởi trong “ba tháng đợi chờ” tròn tuổi là rất cao.

Trẻ mắc bệnh sởi dễ gặp biến chứng nguy hiểm

Bệnh sởi đang vào mùa (từ tháng Hai – Sáu), do đó, với trẻ chưa được chủng ngừa vắc-xin, cần phải sớm được tiêm phòng. Cần lưu ý, người lớn trước đây chưa được chích ngừa sởi nên là đối tượng mang mầm bệnh, là nguồn lây cho trẻ nhỏ. BS Trương Hữu Khanh tư vấn, nếu không chích ngừa sớm, trẻ ở độ tuổi 9-12 tháng dễ mắc bệnh và thường để lại nhiều biến chứng nguy hiểm như: viêm phổi, viêm tai dẫn đến điếc về sau. Mặt khác, những bé bị sởi lúc 9-12 tháng tuổi thường suy dinh dưỡng rất nhanh. Và nếu trẻ đã mắc bệnh lúc chín tháng tuổi, đến lúc trẻ 12 tháng mới được chích vắc-xin dịch vụ, việc chích ngừa này hoàn toàn vô nghĩa.

BS Nguyễn Ngọc Anh Tuấn khuyên, với những trẻ đã chích vắc-xin sởi miễn phí lúc chín tháng tuổi, có thể chích tiếp vắc-xin dịch vụ (sởi + quai bị + rubella) lúc 15 tháng tuổi, chứ không phải 12 tháng tuổi. Sau đó, lúc bốn-sáu tuổi chích nhắc lại mũi dịch vụ (sởi + quai bị + rubella) hoặc chích trong thời điểm chiến dịch ngừa sởi được triển khai do dịch bệnh lưu hành. Với trường hợp quên tiêm mũi sởi lúc chín tháng tuổi, trẻ có thể tiêm bất cứ lúc nào trong giai đoạn 10-12 tháng tuổi. Còn nếu trẻ đã đủ 12 tháng tuổi thì phụ huynh có thể cho trẻ chích vắc-xin dịch vụ (sởi + quai bị + rubella) và sau đó chích nhắc lại theo hướng dẫn của bác sĩ.

VĂN THANH

 

Advertisements

TIÊM CHỦNG (SƯU TẦM)

Tiêm phòng cho trẻ – Lịch tiêm phòng cho trẻ

Bé nhà em được 3 tháng .khi mới sinh ở trong viện bé được tiêm 1 mũi viêm gan B. Cho em hỏi: – Em nghe nói viem gan B cách 1 tháng phải tiêm lại mới được, còn ko là phải tiêm lại từ đầu? – Em nghe nói có mũi tiêm tổng hợp ngừa 6 bênh.Tiêm như vậy có tốt ko? Em muốn tiêm cho bé thì phài tới đâu? Bsĩ tư vấn giúp em phải tiêm phòng như thế nao cho dung? Xin cảm ơn!

(Luu Thi Bich Ngoc)

 

Trả lời: 
Hiện nay có 6 bệnh được ngừa cho trẻ ở nước ta theo lịch chủng ngừa bắt buộc và miễn phí, đó là: lao, bại liệt, bạch hầu, uốn ván, ho gà, sởi. Ở một số nước châu Á, thậm chí có nước thuộc khu vực Ðông Nam Á, trong chương trình tiêm chủng mở rộng có chủng ngừa thêm bệnh thứ 7 là bệnh viêm gan siêu vi B. Ngoài chủng ngừa bắt buộc 6 bệnh kể trên, ở ta trẻ còn được chủng ngừa tự nguyện (tức gia đình lựa chọn và chịu chi phí cho việc chủng ngừa) để ngừa các bệnh sau: viêm màng não mủ Hemophillus influenza hib, viêm màng não mủ do não mô cầu Nesseria meningitidis, thủy đậu (varicella), viêm gan siêu vi B, quai bị, rubeol (có thuốc Trimovax ngừa cả 3 bệnh: quai bị, rubeol, sởi), viêm não Nhật Bản B và cả viêm gan siêu vi B. Ðối với các tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long thì bệnh ưu tiên chủng ngừa tự nguyện vì sự lây nhiễm là thương hàn và dịch tả.

Trong tình hình hiện nay đối với trẻ em châu Á, thuốc chủng ngừa bệnh có thể phân làm 5 nhóm như sau:

– Nhóm 1: Gồm 6 thuốc chủng thuộc chương trình tiêm chủng mở rộng ở nước ta cộng với thuốc chủng viêm gan siêu vi B. Ðây là nhóm chủng ngừa bắt buộc. Cần đưa chủng ngừa viêm gan siêu vi B vào chương trình tiêm chủng mở rộng là vì tỷ lệ nhiễm bệnh này ở châu Á rất cao so với các nước phương Tây và có khoảng một nửa trẻ có mẹ nhiễm siêu vi B đều trở thành người mang mầm bệnh mạn tính. Bốn nhóm còn lại thuộc loại chủng ngừa tự nguyện, tùy trường hợp bố mẹ sẽ đưa trẻ đi chủng ngừa và có thể phải trả chi phí cho việc tiêm chủng.

– Nhóm 2: Là nhóm các thuốc chủng ngừa các bệnh có thể bộc phát thành bệnh dịch địa phương (endemic diseases) như: viêm não Nhật Bản B, thương hàn, dịch tả và viêm màng não mủ do não mô cầu.

– Nhóm 3: Là nhóm các thuốc chủng ngừa các bệnh có nguy cơ cao lây nhiễm cho trẻ, là các bệnh: viêm màng não mủ do Hib, cúm (influenza), viêm phổi do Pneumococcus, thủy đậu. Riêng chủng ngừa thủy đậu được ghi nhận là sẽ giúp trẻ miễn nhiễm phần nào bệnh “giời leo” (herpes zoster).

– Nhóm 4: Là nhóm các thuốc chủng ngừa các bệnh do du lịch từ vùng này sang vùng kia, là các bệnh: viêm gan siêu vi A, sốt vàng (yellow fever). Thương hàn, nhiễm não mô cầu cũng được kể trong nhóm này.

– Nhóm 5: Là nhóm thuốc chủng trong trường hợp đặc biệt, đó là bệnh dại (được ngừa do bị chó dại cắn).
Lịch tiêm chủng theo chương trình tiêm chủng quốc gia: 

LỨA TUỔI LOẠI VẮC XIN PHÒNG BỆNH LỊCH TIÊM 
Từ sơ sinh (càng sớm càng tốt) Lao (BCG) Mũi 1: Có thể nhắc lại sau 4 năm
Viêm gan B (Hepatitis B) Mũi 1
Bại liệt (Poliomyelitis) Bại liệt sơ sinh
1 tháng tuổi Viêm gan B Mũi 2
2 tháng tuổi Bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt (Diphtheria, pertussis, tetanus, polio) Mũi 1
Viêm màng não mủ, viêm họng, viêm PQ, viêm phổi…do trực khuẩn H.influenza týp b Mũi 1
Viêm gan B Mũi 3 (Một năm sau nhắc lại mũi 4 và 8 năm sau nhắc lại mũi 5)
3 tháng tuổi Bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt Mũi 2
Viêm màng não mủ, viêm họng, viêm PQ, viêm phổi…do trực khuẩn H.influenza týp b Mũi 2
4 tháng tuổi Bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt Mũi 3 (nhắc lại sau 1 năm)
Viêm màng não mủ, viêm họng, viêm PQ, viêm phổi…do trực khuẩn H.influenza týp b Mũi 3 (nhắc lại sau 1 năm)
9 tháng tuổi Vacxin phối hợp sởi, quai bị, rubella (MMR) Tiêm 1 mũi, 4-6 năm sau tiêm nhắc lại (Khi cần thiết nhắc lại sau 15 tháng)
Thủy đậu (Varicella) Tiêm 1 mũi duy nhất (9 tháng – 12 tuổi)
Nếu trên 12 tuổi: tiêm 2 mũi (cách nhau 6 – 8 tuần)
12 tháng tuổi Viêm não Nhật Bản B (Japanese B encephalitis) Tiêm 3 mũi (2 mũi đầu cách nhau 1-2 tuần và mũi 3 sau 1 năm)
15 tháng tuổi Vacxin phối hợp sởi, quai bị, rubella (vacxin MMR) Tiêm 1 mũi (nhắc lại sau 4-5 năm)
18 tháng và người lớn Viêm màng não do não mô cầu (vacxin A+C meningoencephalitis) Tiêm 1 mũi
(Cứ 3 năm tiêm nhắc lại 1 lần hoặc theo chỉ định khi có dịch)
24 tháng tuổi và người lớn Viêm gan A (Hepatitis A) = Vacxin Avaxim Tiêm 2 mũi
Từ 2-15 tuổi: khoảng cách giữa 2 mũi là 6 tháng
Trên 15 tuổi: khoảng cách giữa 2 mũi là 6-12 tháng
Viêm phổi, viêm màng não mủ.. do phế cầu khuẩn = vacxin Pneumo 23 Tiêm 1 mũi
(Cứ 5 năm nhắc lại 1 lần)
Thương hàn (Typhoid) = vacxin Typhim Vi Tiêm 1 mũi. Cứ 3 năm nhắc lại 1 lần
36 tháng và người lớn Vacxin Cúm = vacxin Vaxigrip
Vacxin được tiêm mỗi năm 01 lần, đặc biệt những người có nguy cơ mắc các biến chứng của bệnh cúm. Có thể dùng cho phụ nữ đang cho con bú.
35 tháng tuổi – người lớn
01 liều = 0.5 ml/mỗi năm
06 tháng – 35 tháng tuổi
01 liều = 0.25ml/mỗi năm
(trẻ dưới 8 tuổi: chưa mắc cúm hoặc chưa tiêm chủng phải tiêm liều thứ 2 sau 4 tuần)

Lưu ý: Vacxin bạch hầu – ho gà – uốn ván – bại liệt nên nhắc lại khi 4 – 6 tuổi, 10 – 11 tuổi và 16 – 21 tuổi.

* Nguồn: Viện Nhi TW 

Bạn có thể cho con đến tiêm tại 50C Hàng Bài hoặc Trung tâm y tế cộng đồng ở 70 Nguyễn Chí Thanh, số 3 Ông Bích Khiêm (Hà Nội)

Một số lưu ý: 

– Nếu trẻ bị sốt nhẹ, tiêu chảy hay suy dinh dưỡng vẫn cho trẻ tiêm chủng như thường lệ.

– Sau khi tiêm, nếu trẻ bị sốt nhẹ, chỗ tiêm bị sưng đỏ là phản ứng bình thường, không đáng ngại.

– Sau năm đầu, nhớ đưa trẻ đi tiêm ngừa nhắc lại theo hướng dẫn của nhân viên y tế.

Chúc bạn và gia đình sức khoẻ!

CÁC DUNG DỊCH SÁT KHUẨN

Công dụng một số thuốc sát trùng

“Xin cho biết tính năng, tác dụng, chỉ định, chống chỉ định của các loại thuốc sát trùng như cồn 90 độ, cồn iốt, thuốc đỏ, ôxy già và Povidon iốt 10%. Thứ nào tốt và tiện dụng hơn?”.

Trả lời:

Các thuốc kể trên đều có tác dụng và tính năng sát khuẩn, dùng để diệt khuẩn ngoài da, điều trị các bệnh ngoài da do nhiễm khuẩn hoặc chuẩn bị cho các thủ thuật thăm khám và phẫu thuật ở khoa ngoại. Mỗi thứ có một đặc điểm riêng.

Cồn 90 độ: Thường dùng để sát khuẩn da trước khi tiêm (theo một nghiên cứu trước đây của Liên Xô thì cồn 70 độ có độ sát khuẩn cao hơn và tiết kiệm hơn). Nhược điểm của nó là dễ bắt cháy và gây đau rát nếu bôi vào chỗ da bị sây sát hoặc chỗ lên da non, nhất là da trẻ em.

Cồn iốt: Cũng dùng để sát khuẩn da, còn dùng điều trị ngoài da do nhiễm khuẩn, nấm… Cồn iốt cũng có nhược điểm giống như cồn 90 độ, ngoài ra còn gây vết bẩn trên da và quần áo, có thể gây kích ứng ngoài da, xót…Một số người có thể có hiện tượng mẫn cảm gây dị ứng.

Thuốc đỏ: Là dung dịch merbromin (dẫn chất hữu cơ của thuỷ ngân), thường dùng ở nồng độ 1-2%. Tính sát khuẩn của thuốc nhẹ hơn cồn iốt nhưng ít gây kích ứng, dùng cho các vết thương nhỏ. Nó cũng gây vết bẩn trên da và quần áo, không được bôi nhiều vào các vết thương hở và rộng vì có thể gây ngộ độc thuỷ ngân. Một số ít người cũng có thể mẫn cảm với thuốc này.

Nước ôxy già: Là dung dịch hydroperoxyt, dùng ngoài da với nồng độ 3% để sát khuẩn da, làm mất mùi hôi thối, không gây bẩn. Nhược điểm là khó bảo quản do không bền vững (dễ giải phóng ôxy) nên tác dụng giảm đi với thời gian.

Povidon iốt: Thường dùng dung dịch 10% (chứa phức hợp hữu cơ iốt, khi tác dụng sẽ giải phóng dần iốt). Công dụng của nó giống cồn iốt nhưng ít gây kích ứng hơn. Tuy tiện dùng hơn cồn iốt nhưng giá thành của nó cao hơn. Không dùng Povidon iốt cho người mẫn cảm với cồn iốt, trẻ dưới 30 tháng tuổi. Chỉ dùng với thời gian rất ngắn rồi rửa tay ngay với nước. Tránh dùng cùng với các loại thuốc sát khuẩn khác, nhất là thuốc đỏ vì thuốc này tương kị với thuỷ ngân.

DS Vũ Ngọc Thuý, KH&ĐS

 Oxi già (eau oxygénée, dưỡng thủy, H2O2)

Oxy già không gây kích ứng trên da khi sử dụng. Nếu chai thuốc không được đậy kín ngay sau khi dùng, dạng oxy mới sinh có hoạt tính sẽ chuyển thành khí oxy bình thường sẽ không còn tác dụng diệt khuẩn.

Thuốc đỏ (mercurochrome)

Được dùng từ lâu nhờ tác dụng diệt khuẩn mạnh. Cần lưu ý không được dùng thuốc đỏ cho những vết thương sâu vì nguy cơ các lượng chất độc mạnh của thuốc đỏ sẽ có khả năng đi vào máu gây ngộ độc.

Thuốc tím (permanganate de potassium, KMnO4)

Có tác dụng diệt vi khuẩn nhờ tác dụng oxy hóa của dạng oxy mới sinh khi hòa thuốc tím vào nước. Thuốc tím phải được dùng ở dạng hạt tinh thể được hòa tan vào nước với lượng khoảng 1 gam (1 gói) trong 1 lít nước.

Tương tự như oxy già, thuốc tím pha sẵn sẽ không có tác dụng diệt vi khuẩn nhất là khi dùng thuốc tím để rửa rau!

Cồn iốt (teinture d”iode)

Thường dùng với nồng độ 5% cũng có tác dụng oxi hóa vi khuẩn, diệt nấm ngoài da. Tác dụng sát trùng, diệt nấm là do chất iod chứ không phải do cồn, độ cồn có trong công thức thường là thấp – chỉ giúp hòa tan iod.

Cồn iốt là một chất sát trùng mạnh có tính phá hủy các chất hữu cơ như da, quần áo, sách vở… Vì vậy cần thận trọng khi sử dụng trên những vùng cần giữ thẩm mỹ như da mặt.

Hiện nay iốt còn được sử dụng ở dạng hữu cơ (betadine, povidone) không gây kích ứng da, được sử dụng an toàn trên các vùng niêm mạc khá nhạy cảm như trong miệng, âm đạo…

————————————————————

Bé trai sơ sinh V.P.D., ngụ ở Bình Chánh, TPHCM được mẹ ẵm đến bác sĩ khám với triệu chứng rốn sưng đỏ, biếng bú do được bà ngoại “tham vấn” chăm sóc rốn bằng cách rải bột tiêu (gia vị dùng để nấu ăn) để rốn dễ khô và mau lành.

Sau một tuần, rốn của bé ngày càng sưng đỏ và rỉ một ít dịch trong. Tại phòng khám, bé được vệ sinh rốn bằng dung dịch sát khuẩn povidine 10% và dùng thuốc kháng sinh để phòng ngừa nhiễm trùng sơ sinh. Sau vài ngày chăm sóc, rốn bé hết sưng đỏ và khô. Tình trạng của bé sau đó tốt hơn, bú nhiều lại như bình thường.

Có nhiều quan niệm sai lầm nên tránh: bôi rốn bằng xái á phiện (gây ngộ độc và có thể gây hôn mê, ngưng thở cho bé), xái thuốc lá (gây nhiễm trùng rốn và toàn thân), rải bột gia vị (tiêu, ớt, muối, bột ngọt… gây viêm và nhiễm trùng rốn).

Trong khi đó, phụ huynh chỉ cần vệ sinh rốn bé với gạc vô trùng thấm dung dịch sát khuẩn an toàn như: povidone iodine 10% (còn gọi là povidine), xanh methylen (có tên thông dụng tại Việt Nam là Milian), hoặc cồn 70%. Không nên bôi rốn bằng dung dịch thuốc đỏ, thuốc tím vì dễ gây thẩm thấu vào máu qua rốn gây ngộ độc cho bé.

Theo ThS.BS Mai Văn Bôn

Tuổi trẻ

 

VIÊM PQ MẠN & ĐỢT CẤP COPD

Phân biệt đợt cấp của viêm phế quản mạn và đợt cấp COPD

Chào các anh chị,
Xin các anh chị đàn anh đi trước cho em hỏi:
1. Viêm phế quản mạn có xếp vào COPD không? Triệu chứng của 2 bênh này giống nhau ? theo phân loại của bài giảng thì:

“Phân loại VPQM
– Viêm phế quản mạn tính đơn thuần: chỉ ho và khạc đờm, chưa có rối loạn thông khí phổi Có thể điều trị khỏi.
– Viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn: triệu chứng chính là khó thở, do tắc nghẽn lan rộng và thường xuyên của phế quản. Còn gọi là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ( COPD : Chronic Obstructive Pulmonary Disease ).
– Viêm phế quản mạn tính nhầy mủ: ( Brochit chronic mucopurulence ) ho và khạc đờm nhầy từng đợt kịch phát hoặc liên tục.”

Như vậy thể viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn là COPD. Vậy khi nào chẩn đoán là COPD, khi nào chẩn đoán là VPQM?

2. Dấu hiệu nào chẩn đoán đợt cấp của VPQM và đợt cấp của COPD? Vì trên lâm sàng đều có khó thở, ho, khạc đờm. Có cần phân bệt rạch ròi 2 chẩn đoán này không?

** Như vậy thể viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn là COPD? Vậy khi nào chẩn đoán là COPD, khi nào chẩn đoán là VPQM?

Đúng, Viêm phế quản mạn tính tắc nghẽn là COPD.
Vậy khi nào chẩn đoán là COPD, VPQM? Dựa vào tiêu chuẩn trong định nghĩa và triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, khi đo thông khí phổi có tắc nghẽn lưu lượng thở không hồi phục (FEV1 < 80% số lý thuyết, test hồi phục phế quản âm tính) -> COPD.

“Có thể coi BPTNMT là một loại bệnh do biến chứng của viêm phế quản mạn tính, khí phế thũng và hen phế quản ở mức độ không hồi phục. Cần được coi là loại bệnh mạn tính nặng, để có biện pháp phòng và điều trị sớm. Chẩn đoán BPTNMT khi có tắc nghẽn đường thở cố định do viêm phế quản mạn tính và khí phế thũng gây ra, hen phế quản có tắc nghẽn đường thở cố định không hồi phục cũng gọi là BPTNMT”

** Dấu hiệu nào chẩn đoán đợt cấp của VPQM và đợt cấp của COPD? Vì trên lâm sàng đều có khó thở, ho, khạc đờm. Có cần phân bệt rạch ròi 2 chẩn đoán này không?

Chẩn đoán được bệnh VPQM và COPD thì sẽ chẩn đoán được đợt cấp (bùng phát) của nó.

** Mình xin được trả lời câu hỏi này nếu không phải cả nhà góp y nha.
Trên lâm sàng mình vân nghe thầy cô nói khi vpq man mà có ho khạc đờm mạn tính và có khó thở đầu tiên là gắng sức sau đó là khó thở liên tục thì chuẩn đoán copd. Hoặc khi vpq mạn mà giảm sưc lao động vd như ngày trước 1 vài tháng trước bệnh nhân có thể quét được 1 cái sân nhưng bây giờ thì quét thấy mệt. Đây chỉ là chuẩn đoán sơ bộ còn muốn chuẩn đoán xác định thì phải đo thông khí hô hấp.
Khi chuẩn đoán khó thở bạn phải chú ý phân xem có phải khó thở của copd không hay khó thở của tăng huyết áp hay bệnh tim mạch….
Nên theo mình để chuẩn đoán phân biệt được đợt cấp vpq mạn và đợt cấp copd thì bạn cần khai thác rõ các yếu tố trên và tiền sử của bệnh nhân.
Không biết có phải không mọi người góp ý nha.
Chúc cả nhà mạnh khỏe

**Viêm phế quản mạn và COPD đều có tiêu chuẩn chẩn đoán rồi. Viêm phế quản mạn là giai đoạn sớm của COPD (tất nhiên cả khí phế thũng nữa), khi có rối loạn thông khí tắc nghẽn không hồi phục thì được gọi là COPD. Nếu bệnh nhân của bạn đã bị “viêm phế quản mạn” nhiều năm rồi, đợt này nặng hơn các đợt trước và khó thở khi gắng sức nhẹ thì bạn cứ chẩn đoán COPD thôi. À, bạn drhieu134 đừng dùng từ “chuẩn đoán” nhé.

LỚP CHỨNG CHỈ SƯ PHẠM

Tư duy là gì?

Bạn chuẩn bị tham gia một cuộc thi chạy mà cái đích bạn cần đến nằm ở bờ hồ đối diện. Có hai con đường để cho bạn đến đích, một là chạy men theo bờ hồ và một là chạy qua cây cầu bắc qua hồ chỉ bằng một thân cây. Bạn sẽ phải lựa chọn một trong hai con đường đó. Chạy men theo bờ hồ sẽ an toàn hơn nhưng thời gian sẽ lâu hơn, còn đi qua cầu có thể sẽ không mất nhiều thời gian nhưng bạn sẽ rất dễ rơi xuống hồ và cuộc thi với bạn sẽ kết thúc. Sự suy nghĩ để lựa chọn cách đến đích như vậy gọi là tư duy.

Một cầu thủ bóng đá phải lựa chọn giữa chuyền bóng cho đồng đội ghi bàn hay tự mình ghi bàn khi tỉ lệ thành công là 51% và 49%. Nhưng anh ta sẽ không có cách lựa chọn nào khác ngoài việc sử dụng đầu để ghi bàn khi nhận được đường bóng ở tầm cao hơn chiều cao của anh ta. Trường hợp thứ nhất đòi hỏi phải có sự chọn lựa hay phải có tư duy, còn trường hợp thứ hai thì anh ta hành động gần như bản năng, hay đúng hơn là hành động đó được hình thành sau một quá trình dài luyện tập đến mức anh ta không cần phải suy nghĩ gì khi hành động.

Cảm xúc trào dâng khiến bạn nảy ra một ý thơ nào đó và bạn muốn làm một bài thơ. Để có thể làm được bài thơ diễn tả ý thơ đó, bạn phải lựa chọn thể loại, chọn lựa cấu trúc, chọn cách gieo vần. Nói tóm lại là bạn phải tiêu tốn thời gian để suy nghĩ, tìm tòi. Có nghĩa là bạn tư duy.

Khi bạn phải làm một bài tập toán, bạn phải đọc kỹ để tìm hiểu đề bài, phải đánh giá về dạng toán, các dữ kiện đã cho, các yêu cầu bạn phải giải đáp, sau đó bạn phải tìm phương pháp giải, các công thức, các định lý cần áp dụng…Bạn cần phải tư duy trước khi làm bài.

Những quá trình tư duy trên đây, dù nhanh hay chậm, dù nhiều hay ít, dù nông cạn hay sâu sắc đều diễn ra trong bộ não hay thần kinh trung ương. Chúng không diễn ra trong mắt hay trong tim. Chúng là một hoạt động của hệ thần kinh. Hay tư duy là một hoạt động của hệ thần kinh.

Khi bạn vô tình chạm tay vào cốc nước nóng, bạn sẽ rụt tay lại. Đây là phản xạ không điều kiện do hệ thần kinh chỉ đạo các cơ bắp thực hiện. Để học thuộc một bài thơ, bạn phải đọc đi đọc lại nhiều lần và cố nhớ bài thơ khi không có bản ghi trước mắt. Bạn thực hiện một loạt các công việc theo quy trình bạn được học để tạo ra một sản phẩm…Có nghĩa là hệ thần kinh của bạn không chỉ có một loại hình hoạt động là tư duy mà còn có nhiều hoạt động khác. Không chỉ có vậy, hoạt động tư duy không phải là thường xuyên và hệ thần kinh nào cũng có. Hoạt động điều khiển sự vận động của cơ thể là hoạt động nhiều nhất và là hoạt động chính của tất cả các hệ thần kinh.

Vậy tư duy là gì và nó khác với các loại hình hoạt động thần kinh khác như thế nào? Nó bắt đầu từ đâu? Hoạt động thần kinh như thế nào thì được gọi là tư duy? Điều kiện để có hoạt động tư duy là gì. Tư duy có các dạng khác nhau hay không và có thì có bao nhiêu dạng? Tư duy giữ vai trò gì trong hoạt động thần kinh?

Những câu hỏi trên đây quả thực là rất khó trả lời mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư duy. Một thực tế hiện nay là chưa có một định nghĩa về tư duy mang tính khái quát thể hiện đầy đủ tính chất, đặc điểm, vai trò của tư duy. Ăng-ghen là người nghiên cứu rất sâu sắc về tư duy nhưng cũng không đưa ra định nghĩa về tư duy. Những điều này làm hạn chế năng lực tư duy (bởi chưa hiểu về tư duy) mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát huy năng lực tư duy.

Như một số ví dụ trên đã nêu, trước hết cần khẳng định rằng tư duy là một hình thức hoạt động của hệ thần kinh. Khẳng định điều này để giới hạn việc nghiên cứu về tư duy. Tư duy không có trong các loài thực vật, không có ở ngọn núi, mỏm đá hay dòng sông, cũng không ở ngoài hệ thần kinh và có thể chỉ trong một số hệ thần kinh và chỉ ở trung ương thần kinh.

Hệ thần kinh hoạt động theo nguyên lý các tế bào thần kinh của nó tiếp nhận kích thích và phát ra một kích thích thần kinh. Các kích thích tác động lên các tế bào thần kinh để kích hoạt các tế bào này hoạt động gọi là các kích thích sơ cấp, còn các kích thích do các tế bào thần kinh phát ra gọi là kích thích thứ cấp. Các kích thích thứ cấp có thể kích thích các tế bào thần kinh khác hoạt động và như vậy nó cũng mang tính chất của kích thích sơ cấp. Điều này có nghĩa là với tế bào thần kinh này thì kích thích là thứ cấp, nhưng tế bào khác là sơ cấp. Các kích thích thần kinh có nhiều loại như mùi vị, âm thanh, ánh sáng, xung điện…Các tế bào thần kinh có thể tiếp nhận những kích thích này mà không tiếp nhận những kích thích khác, tập hợp những kích thích có thể kích hoạt được tế bào thần kinh tạo nên phổ tiếp nhận kích thích của tế bào thần kinh. Phổ tiếp nhận kích thích có thể rộng hay hẹp. Phổ tiếp nhận rộng khiến tế bào thần kinh dễ bị kích hoạt bởi các kích thích đến từ nhiều nguồn khác nhau, còn phổ hẹp làm cho tế bào thần kinh chỉ được kích hoạt bởi một số kích thích nhất định.

Khi các tế bào thần kinh hoạt động cũng là lúc chúng thực hiện một chức năng nào đó trong hệ thần kinh. Để có thể thực hiện chức năng, trong các tế bào thần kinh phải có một cấu trúc chức năng tương ứng với chức năng mà tế bào thần kinh đảm nhận. Chức năng của các tế bào thần kinh có thể được hình thành ngay từ khi ra đời hoặc chỉ được hình thành trong quá trình sinh trưởng. Các tế bào thần kinh chức năng được hình thành ngay từ khi ra đời là các tế bào thực hiện các chức năng mang tính bản năng, còn các tế bào hình thành chức năng trong quá trình sinh trưởng giúp cho sự hoạt động phù hợp hay thích nghi với môi trường sống, chúng là các tế bào thần kinh không bản năng, chúng là các tế bào ghi nhớ mới. Để có thể giúp cho sự hoạt động phù hợp với môi trường sống, các tế bào này phải ghi nhớ được các tác động của môi trường lên cơ thể. Đây là sự ghi nhớ mới. Như vậy sự hình thành chức năng của các tế bào thần kinh không bản năng đồng nghĩa với sự ghi nhớ của chúng về các yếu tố môi trường tác động lên cơ thể (quá trình này gọi là tái chuyển hoá). Khi các tế bào này hoạt động, chúng tái hiện lại các yếu tố đã làm cho chúng ghi nhớ, đồng thời có thể phát ra kích thích thần kinh thứ cấp để kích hoạt sự hoạt động của các tế bào khác (bao gồm các tế bào thần kinh và các bộ phận khác trong cơ thể). Để các tế bào ghi nhớ mới thực hiện việc ghi nhớ, chúng phải nhận được kích thích sơ cấp từ các tế bào thần kinh cảm giác hoặc các tế bào thần kinh khác đang hoạt động. Thông thường, các kích thích từ các tế bào thần kinh cảm giác giúp cho sự ghi nhớ các yếu tố của môi trường tác động lên cơ thể, còn các kích thích đến từ các tế bào thần kinh đã ghi nhớ có tác dụng làm rõ nét hơn sự ghi nhớ bằng hình thức gia tăng số lượng các tế bào ghi nhớ về cùng một yếu tố, chúng là các nhóm tế bào cùng ghi nhớ và tập hợp với các tế bào ghi nhớ riêng lẻ gọi là các phần tử ghi nhớ. Có nhiều vấn đề về sự ghi nhớ mới nhưng do chủ đề của bài là về tư duy nên chúng không được trình bày kỹ ở đây. Độc giả có thể tìm đọc các bài về sự ghi nhớ. Như vậy sự ghi nhớ cũng là một hình thức hoạt động của hệ thần kinh. Có hai phương pháp chính để hệ thần kinh ghi nhớ được là cho đối tượng tác động lặp lại nhiều lần và bổ xung các phần còn thiếu của đối tượng bằng cách tìm trong sự ghi nhớ của hệ thần kinh các bộ phận thuộc các đối tượng khác nhưng có các điểm tương tự với các bộ phận của đối tượng (phương pháp so sánh, chọn lựa). Phương pháp thứ hai áp dụng khi không có cơ hội để đối tượng tác động nhiều lần. Để thực hiện phương pháp này, hệ thần kinh phải tìm trong trí nhớ, phải thực hiện nhiều các thao tác như phân tích, so sánh, đánh giá, tổng hợp, có nghĩa là hệ thần kinh phải tư duy. Những phân tích này cho chúng ta thấy sự khác nhau giữa hoạt động ghi nhớ và hoạt động tư duy. Ghi nhớ bằng phương pháp tác động lặp lại nhiều lần không đòi hỏi hệ thần kinh phải tư duy và áp dụng được cho nhiều dạng hệ thần kinh khác nhau. Còn ghi nhớ đòi hỏi phải tư duy chỉ có một số hệ thần kinh thực hiện được. Phương pháp ghi nhớ trước gọi là ghi nhớ không tư duy, phương pháp ghi nhớ sau gọi là phương pháp nhớ có tư duy. Tư duy trong ghi nhớ sẽ kết thúc khi sự ghi nhớ đã được thực hiện.

Có nhiều hệ tế bào khác trong cơ thể cũng tiếp nhận được kích thích thần kinh thứ cấp và thực hiện hoạt động, trong đó dễ nhận thấy nhất là các hệ tế bào vận động. Khi các tế bào thần kinh phát ra kích thích thần kinh để kích thích các hệ thế bào khác trong cơ thể hoạt động là chúng thực hiện chức năng điều khiển cơ thể, chúng cũng hoạt động, hay điều khiển cơ thể cũng là một hoạt động của hệ thần kinh. Trong hoạt động này cũng có thể có hoặc không có tư duy. Cánh tay co lại khi ngón tay vô tình chạm vào cốc nước nóng là phản xạ không điều kiện, nó không đòi hỏi phải tư duy và tư duy còn có thể có phản tác dụng trong trường hợp này (làm chậm sự phản xạ). Việc chọn lựa giữa sút bóng thẳng vào cầu môn hay chuyển cho đồng đội như ví dụ trên đây đã quyết định cách thức hành động của cầu thủ, có nghĩa là cần có tư duy, tư duy trước khi hành động. Người thợ thực hiện một loạt các thao tác theo quy trình công nghệ đã được ghi nhớ trong quá trình sản xuất cũng không cần phải tư duy. Có những hoạt động điều khiển đơn giản cũng yêu cầu phải có tư duy, có những hoạt động điều khiển phức tạp không cần phải tư duy khi sự điều khiển đó đã trở nên thuần thục. Tư duy định hướng cho hành động.

Sự xuất hiện của tư duy trong hai phân tích trên đây cho thấy tư duy chỉ xuất hiện khi giữa các phần tử ghi nhớ chưa tạo được liên kết ghi nhớ hoặc đã có liên kết nhưng với mức độ phức tạp nào đó ( liên kết phức hợp). Hệ thần kinh phải tìm trong các điểm ghi nhớ đã có trong nó các phần tử ghi nhớ có thể liên kết với nhau theo một trình tự, một lôgic nào đó. Điều này đã tự nó nói lên rằng hệ thần kinh phải có năng lực tư duy mới có thể thực hiện được việc tư duy. Để có thể thấy rõ hơn về điều này, chúng ta xét thêm một hoạt động nữa của hệ thần kinh là mơ. Nhịp điệu ngày đêm của trái đất đã tạo nên nhịp điệu sinh học thức và ngủ cho các cơ thể sống. Thức là trạng thái cơ thể thực hiện nhiều hoạt động nhất, còn ngủ là trạng thái các bộ phận cơ thể thực hiện sự nghỉ ngơi để phục hồi khả năng làm việc. Hệ thần kinh cũng có hai trạng thái này. Nhưng không phải là triệt để mà trong trạng thái ngủ, có những tế bào hoặc nhóm tế bào thần kinh vẫn hoạt động và tạo nên các giấc mơ. Giấc mơ có nhiều dạng, có dạng chỉ là sự tái hiện lại những hình ảnh tạo ấn tượng mạnh mà người mơ tiếp xúc khi thức, có những giấc mơ là sự tiếp tục quá trình tư duy mà người mơ dang thực hiện dang dở lúc thức (và có thể có kết quả kỳ diệu như Men-đê-lê-ép), có những giấc mơ chỉ là sự ghép nối từ rất nhiều chi tiết hình ảnh của nhiều hiện tượng, sự vật, sự việc khác nhau mà người mơ đã từng tiếp xúc, đã từng ghi nhớ và thậm trí đã từng tưởng tượng. Có nhiều sự ghép nối phức tạp đến mức người mơ cảm thấy giấc mơ rất kỳ lạ và khó nhận ra các chi tiết đó mình đã từng thấy. Những giấc mơ dạng này có một điểm giống với tư duy, đó là sự liên kết giữa các phần tử ghi nhớ không thuộc cùng một sự vật, một sự việc, một đối tượng, nhưng sự khác nhau căn bản là tư duy thực hiện sự chọn lọc, còn giấc mơ là không. Giấc mơ tiếp tục quá trình tư duy nói trên đây cũng thực hiện sự chọn lọc như tư duy, hay tư duy cũng có thể xuất hiện trong một số giấc mơ. Sự xuất hiện hay không xuất hiện, có sự giống và khác nhau giữa tư duy và mơ cho thấy tư duy và mơ không phải là một.

Tư duy không phải là sự ghi nhớ mặc dù nó có thể giúp cho sự hoàn thiện ghi nhớ. Tư duy không phải là hoạt động điều khiển cơ thể mà chỉ giúp cho sự định hướng điều khiển hay định hướng hành vi. Tư duy cũng không phải là giấc mơ mặc dù nó có thể xuất hiện trong một số giấc mơ và có những điểm giống với giấc mơ. Tư duy không có ở ngoài hệ thần kinh. Tư duy là một hình thức hoạt động của hệ thần kinh thể hiện qua việc tạo ra các liên kết giữa các phần tử đã ghi nhớ được chọn lọc và kích thích chúng hoạt động để thực hiện sự nhận thức về thế giới xung quanh, định hướng cho hành vi phù hợp với môi trường sống. Tư duy là sự hoạt động, là sự vận động của vật chất, do đó tư duy không phải là vật chất. Tư duy cũng không phải là ý thức bởi ý thức là kết quả của quá trình vận động của vật chất.

Vai trò của tư duy

Định nghĩa trên đây có thể còn chưa trọn vẹn nhưng đã hàm chứa được hai vai trò quan trọng nhất của tư duy và một yêu cầu không thể thiếu đó là sự ghi nhớ. Sự ghi nhớ này là kinh nghiệm, là tri thức. Sự ghi nhớ có thể được thực hiện bằng cách lặp lại sự tác động của đối tượng cần ghi nhớ lên hệ thần kinh. Nhưng điều này không thể thực hiện được với mọi đối tượng. Hơn thế có nhiều đối tượng phức tạp với nhiều thành phần, các thành phần có thể không tác động đồng thời, có thành phần ẩn và còn có thể xuất hiện sự tác động của các đối tượng khác có hoặc không liên quan đến đối tượng đang ghi nhớ. Điều này làm cho sự ghi nhớ về đối tượng là không đầy đủ hoặc lẫn với các đối tượng khác. Tư duy trong ghi nhớ là trả về cho đối tượng trong sự ghi nhớ các thành phần đúng của nó, bổ xung các thành phần còn thiếu, phân biệt nó với các đối tượng ghi nhớ khác, tìm ra các mối liên hệ và ảnh hưởng qua lại của đối tượng với các sự vật, sự việc, đối tượng khác. Đây là quá trình nhận thức lý tính, nhận thức bằng tư duy. Nó phân biệt với nhận thức cảm tính là nhận thức không có tư duy. Nhận thức lý tính giúp cho sự hiểu biết và ghi nhớ về đối tượng nhiều hơn những cái mà đối tượng cung cấp cho sự ghi nhớ của hệ thần kinh, đối tượng được hiểu sâu hơn, được xem xét, đánh giá toàn diện hơn và kỹ càng hơn, được nhận thức đúng đắn hơn. Tư duy bổ xung những cái còn thiếu trong quá trình hệ thần kinh ghi nhớ về đối tượng.

Sau khi giúp hệ thần kinh nhận thức đúng về đối tượng, tư duy tiếp tục giúp hệ thần kinh định hướng điều khiển hành vi đáp ứng sự tác động của đối tượng nếu cần thiết hoặc có yêu cầu. Tư duy thực hiện việc này bằng cách kết hợp giữa nhận thức về đối tượng với hoàn cảnh hiện tại để đề ra phương thức phản ứng hoặc hành vi. Việc này bao hàm cả sự vận dụng tri thức vào điều kiện thực tế. Sự định hướng của tư duy không phân biệt tính đơn giản hay phức tạp của đối tượng. Có việc đơn giản cũng đòi hỏi phải tư duy như ví dụ về chọn lựa giữa sút và chuyền bóng trên đây. Nhưng cũng có những việc rất phức tạp như quản lý tài chính của một đơn vị kinh tế, mặc dù người thực hiện phải hao tổn trí óc nhưng cũng không được coi là có tư duy khi mọi công việc đều thực hiện theo những thủ tục, những quy trình, những văn bản pháp quy, những mẫu biểu, công thức, những quy định cho trước. Yêu cầu của những công việc phức tạp này là người thực hiện phải rèn luyện được kỹ năng làm việc thành thạo. Và để có được kỹ năng này thì họ phải học thuộc lòng và rèn luyện chu đáo và có thể họ phải sử dụng tư duy để nắm chắc được các yêu cầu thực hiện công việc. Khi kỹ năng làm việc chưa thành thục thì có thể phải có tư duy, nhưng khi kỹ năng làm việc đã thành thục thì không cần tư duy nữa. Tư duy định hướng đến sự thành thục. Khi sự thành thục đã có thì tư duy kết thúc. Điều này giống với sự nhận thức, khi sự nhận thức chưa có thì cần phải tư duy, khi nhận thức đã có thì tư duy kết thúc.

Các loại hình tư duy

Nhân loại đã đặt cho tư duy rất nhiều loại hình tư duy như tư duy lôgic, tư duy trừu tượng, tư duy sáng tạo, tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận, tư duy khoa học, tư duy triết học v.v…Về bản chất, tư duy chỉ có một, đó là sự việc hình thành mới hoặc tái tạo lại các liên kết giữa các phần tử ghi nhớ. Sự phân chia ra các loại hình tư duy nhằm mục đích hiểu sâu và vận dụng tốt tư duy trong hoạt động của hệ thần kinh. Có thể phân loại tư duy theo các loại dưới đây:

Phân loại theo cách thể hiện

Phân loại theo cách thể hiện được chia ra thành tư duy bằng hình tượng và tư duy bằng ngôn ngữ. Tư duy bằng hình tượng gồm có sự tư duy hình ảnh, âm thanh. Tư duy hình tượng còn được gọi bằng cái tên khác là tưởng tượng. Tư duy bằng ngôn ngữ là tư duy bằng hệ thống tiếng nói. Tư duy bằng ngôn ngữ còn được gọi là suy nghĩ, nhiều khi tư duy ngôn ngữ cũng được gọi là tưởng tượng. Trong tư duy hình tượng, các phần tử xuất hiện trong quá trình tư duy là các hình ảnh, còn tư duy ngôn ngữ là các lời văn. Các hoạ sỹ tưởng tượng về bố cục, các hình ảnh, màu sắc cho một bức tranh sẽ vẽ. Nhà văn tưởng tượng về các khung cảnh mà nhân vật hoạt động, suy nghĩ (hay tưởng tượng) về lời thoại của nhân vật, nhà hiền triết suy nghĩ về những điều mình sẽ nói. Tư duy hình tượng có tính phổ biến cao hơn tư duy ngôn ngữ. Các con chó hoang nhìn hành vi của con đầu đàn là biết được con đầu đàn chọn con mồi nào trong đàn linh dương. Tư duy ngôn ngữ chỉ có ở loài người bởi chỉ có loài người có tiếng nói (và chữ viết).

Phân loại theo cách vận hành

  • Tư duy kinh nghiệm. Kinh nghiệm bao hàm toàn bộ mọi sự hiểu biết, mọi cách ứng xử mà một cá nhân tiếp thu được trong cuộc đời. Kinh nghiệm có thể do cá nhân tự rút ra được trong quá trình hoạt động của mình hoặc do tiếp thu từ người khác. Mọi tri thức của nhân loại cũng là kinh nghiệm bởi chúng được rút ra từ quá trình phát triển của loài người với mức độ cô đọng, sâu sắc. Tư duy kinh nghiệm là sự vận dụng kinh nghiệm vào một quá trình nhận thức mới hay thực hiện một công việc mới, thực hiện một công việc cũ trong điều kiện hoặc hoặc hoàn cảnh mới. Tư duy kinh nghiệm xem xét, đánh giá các sự vật, sự việc mới theo những cách thức có sẵn, cố gắng đưa sự nhận thức những sự vật, sự việc đó về những cái đã biết và do đó thường gặp khó khăn khi tiếp xúc với những sự vật, sự việc, vấn đề có nhiều sự khác lạ. Tư duy kinh nghiệm dễ tạo nên các đường mòn tư duy và tạo thành các thói quen trong tư duy. Tư duy kinh nghiệm có thể làm thay đổi sự vật, sự việc, vấn đề về quy mô, hình dạng, địa điểm, thời gian nhưng không làm thay đổi tính chất của chúng, nói cách khác nếu tư duy có thể làm thay đổi được cái gì đó thì sự thay đổi chỉ có về mặt lượng chứ không thay đổi về chất. Tư duy kinh nghiệm là sự giải quyết các vấn đề hiện tại theo những khuôn mẫu, cách thức đã biết với một vài biến đổi nào đó cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Tư duy kinh nghiệm vận hành trên cơ sở các liên kết thần kinh được tạo do tác động từ bên ngoài dó đó năng lực tư duy phụ thuộc vào lượng kinh nghiệm tích luỹ và phương pháp tác động tạo liên kết ghi nhớ. Khi lượng kinh nghiệm còn ít, các liên kết ghi nhớ chỉ được thực hiện trong từng vấn đề, sự vật, sự việc, đối tượng thì tư duy kinh nghiệm mang tính máy móc, giáo điều, lặp lại mọi cái đã được ghi nhớ, thực tế trường hợp này có thể coi là chưa có tư duy mặc dù hệ thần kinh thực hiện hoạt động tái hiện lại những cái đã ghi nhớ. Sự tích luỹ nhiều kinh nghiệm giúp cho việc tìm ra cách giải quyết các vấn đề hiện tại nhanh hơn và giải quyết được nhiều vấn đề hơn. Trong một số trường hợp sự phản ứng nhanh của hệ thần kinh tích luỹ nhiều kinh nghiệm dễ bị nhầm với sự thông minh hay thông thái. Trường hợp này xảy ra khi tại địa điểm và thời gian đó không còn ai ngoài người giải quyết được vấn đề có đủ kinh nghiệm. Tư duy kinh nghiệm chỉ là sự chấp nhận và sử dụng các kinh nghiệm đã có.
  • Tư duy sáng tạo. Tư duy sáng tạo cũng có yêu cầu về sự tích luỹ kinh nghiệm hay tích luỹ tri thức. Nhưng tư duy sáng tạo vận hành không hoàn toàn dựa trên các liên kết ghi nhớ được hình thành do các tác động từ bên ngoài mà có nhiều liên kết do hệ thần kinh tự tạo ra giữa các vấn đề, các sự vật, sự việc tác động riêng rẽ lên hệ thần kinh. Tư duy sáng tạo tìm ra cách giải quyết vấn đề không theo khuôn mẫu, cách thức định sẵn. Trong tư duy kinh nghiệm, để giải quyết được vấn đề đòi hỏi người giải quyết phải có đủ kinh nghiệm về vấn đề đó, còn trong tư duy sáng tạo chỉ yêu cầu người giải quyết có một số kinh nghiệm tối thiểu hoặc có kinh nghiệm giải quyết những vấn đề khác. Tư duy sáng tạo là sự vận dụng các kinh nghiệm giải quyết vấn đề này cho những vấn đề khác. Người chỉ có tư duy kinh nghiệm sẽ lúng túng khi gặp phải những vấn đề nằm ngoài kinh nghiệm, còn người có tư duy sáng tạo có thể giải quyết được những vấn đề ngoài kinh nghiệm mà họ có. Tư duy sáng tạo tạo nên các kinh nghiệm mới trên các kinh nghiệm cũ và do đó làm phong phú thêm kinh nghiệm, nó tạo nên sự thay đổi về chất cho các vấn đề, sự vật, sự việc mà nó giải quyết. Biểu hiện của tư duy sáng tạo là sự thông minh, dám thay đổi kinh nghiệm. Tư duy sáng tạo góp phần tạo nên kinh nghiệm.
  • Tư duy trí tuệ. Tư duy trí tuệ cũng vận hành giống tư duy sáng tạo nhưng ở mức độ cao hơn…Tư duy trí tuệ được vận hành trên cơ sở các liên kết ghi nhớ là không bền và các phần tử ghi nhớ có phổ tiếp nhận kích thích thần kinh rộng. Liên kết ghi nhớ không bền khiến cho các con đường tư duy cũ dễ bị xoá, phổ tiếp nhận kích thích thần kinh rộng khiến cho các phần tử ghi nhớ có thể được kích hoạt bởi các kích thích thần kinh từ các phần tử không nằm trong cùng liên kết ghi nhớ trước đó và vì vậy hình thành nên các con đường tư duy mới. Nếu như tư duy kinh nghiệm đi theo những con đường cho cho trước, quá trình tư duy chi mang tính chỉnh sửa, uốn nắn con đường đó cho phù hợp với hoàn cảnh mới thì tư duy sáng tạo có nhiều con đường để đi hơn và tư duy trí tuệ hoặc không thể đi được do các con đường cũ bị xoá, hoặc tạo nên các con đường mới cho tư duy. Tư duy kinh nghiệm chỉ tìm ra được một cách giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo có nhiều cách giải quyết và chọn lấy cách giải quyết tốt nhất, còn tư duy trí tuệ tạo ra con đường mới. Tư duy kinh nghiệm giải quyết vấn đề mới bằng kinh nghiệm cũ, tư duy sáng tạo giải quyết vấn đề cũ bằng kinh nghiệm mới hoặc kết hợp giữa cũ và mới, tư duy trí tuệ giải quyết mọi vấn đề bằng các cách thức mới do tư duy tìm ra. Tư duy kinh nghiệm tương ứng với phương thức hoạt động phản ứng của hệ thần kinh, tư duy sáng tạo xuất hiện trong phương thức hoạt động sáng tạo, còn tư duy trí tuệ xuất hiện trong phương thức hoạt động trí tuệ. Tư duy trí tuệ không đi theo kinh nghiệm đã có mà phát triển theo những con đường mới và do đó nó sẽ tìm thấy nhiều vấn đề mới. Lượng kinh nghiệm, tri thức tích luỹ được là lớn nhưng nếu chỉ có tư duy kinh nghiệm thì kết quả của quá trình tư duy cũng chỉ quẩn quanh trong những điều đã biết. Sự thông thái trong tư duy kinh nghiệm chỉ là sự học thuộc sự thông thái của người khác. Tư duy kinh nghiệm không tạo nên bản sắc riêng cho tư duy. Trong nhiều trường hợp, tư duy kinh nghiệm mang tính chất của sự bảo thủ, giáo điều và khó hoặc không chấp nhận sự đổi thay, sự sáng tạo, các ý kiến khác hoặc ý kiến trái ngược. Một điều tệ hại hơn đó là có những người mà hệ thần kinh của họ có khả năng ghi nhớ tốt, họ đã tiếp nhận được rất nhiều kinh nghiệm, tri thức và họ tự cho mình đã ở đỉnh cao của tri thức nhân loại trong khi họ chỉ có năng lực tư duy kinh nghiệm, họ không thừa nhận sự đổi mới trong tư duy và lấy lượng tri thức mà họ tích luỹ được làm quyền lực để phủ định những kinh nghiệm, những tri thức mới, họ làm chậm sự phát triển. Tư duy trí tuệ vẫn dựa trên nền tảng các kinh nghiệm, các tri thức đã được bộ não ghi nhớ, nhưng với việc thiết lập các liên kết mới, tư duy trí tuệ thực hiện sự tổ chức lại tri thức, tạo nên những nhận thức mới vượt ra ngoài những kinh nghiệm, tri thức được tiếp nhận và đây là cái được gọi là tự ý thức. Khi những nhận thức xuất hiện từ quá trình tự ý thức vượt lên trên những kinh nghiệm, những tri thức đã có và phù hợp với thực tiễn thì chúng trở thành tri thức mới. Tư duy trí tuệ tạo ra tri thức. Nhưng tư duy trí tuệ không dựa trên cơ sở các quy luật tự nhiên thì cũng có thể dẫn đến các sai lầm nghiêm trọng và biểu hiện rõ nhất là các lập luận hoang tưởng.
  • Tư duy phân tích. Phân tích là sự chia nhỏ sự vật, sự việc, vấn đề, sự kiện…, gọi chung là các đối tượng, thành các thành phần để xem xét, đánh giá về các mặt cấu trúc, tổ chức, mối liên hệ giữa các thành phần, vai trò và ảnh hưởng của từng thành phần trong các đối tượng và trên cơ sở các phân tích, đánh giá đó xác định mối quan hệ và ảnh hưởng của đối tường được phân tích tới các đối tượng khác. Tư duy phân tích là tư duy về một đối tượng, tìm các thành phần tham gia vào đối tượng, các mối liên kết, quan hệ giữa các đối tượng, xác định các đặc điểm, tính chất, đặc trưng, vai trò của đối tượng trong mối quan hệ với các đối tượng khác (gọi chung là các yếu tố). Với việc xác định các yếu tố của một đối tượng, tư duy phân tích mang tính tư duy theo chiều sâu. Mức độ sâu sắc của tư duy được đánh giá qua số lượng các yếu tố mà tư duy phân tích tìm được.
  • Tư duy tổng hợp. Ngược với sự chia nhỏ đối tượng, tư duy tổng hợp tập hợp các yếu tố cùng loại, các yếu tố có liên quan với nhau cho đối tượng. Sự phân tích cho thấy tất cả hay phần lớn các yếu tố của đối tượng, nhưng vai trò của từng yếu tố trong những hoàn cảnh, những thời điểm khác nhau có thể thay đổi, có yếu tố chủ yếu và không thể thiếu, có yếu tố hỗ trợ, có yếu tố cần cho hoàn cảnh này nhưng không cần cho hoàn cảnh khác. Tư duy tổng hợp giúp đánh giá được các tính chất đó của từng yếu tố thuộc đối tượng và xác định thành phần, đặc điểm, tính chất của đối tượng phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Tư duy tổng hợp được thực hiện khi xem xét một đối tượng xuất hiện nhiều lần tại những địa điểm và thời gian khác nhau, các đối tượng cùng dạng hoặc các đối tượng khác nhau nhau. Vì vậy tư duy tổng hợp cũng có thể được chia thành nhiều dạng và dẫn đến những kết quả khác nhau. Tư duy tổng hợp thực hiện trên một đối tượng xuất hiện nhiều lần tại nhiều địa điểm khác nhau nhằm đánh giá được các yếu tố xuất hiện thường xuyên nhất và có vai trò chính của đối tượng. Tư duy tổng hợp xem xét đánh giá sự giống và khác nhau giữa các đối tượng cùng dạng và qua đó xác định xem giữa chúng có mối liên hệ hay không và nếu có là những mối liên hệ như thế nào. Một đối tượng xuất hiện nhiều lần tại các địa điểm khác nhau nhiều khi cũng được xem xét như các đối tượng cùng dạng. Tư duy tổng hợp thực hiện trên các đối tượng khác nhau là tư duy tìm kiếm các mối quan hệ giữa các đối tượng đó hặc tìm kiếm các yếu tố trong các đối tượng đó có thể hợp thành một đối tượng mới. Tìm kiếm các mối quan hệ nhằm đánh giá sự ảnh hưởng, sự tương tác lẫn nhau giữa các đối tượng. Tìm kiếm các yếu tố có thể và liên kết chúng lại với nhau trong những mối quan hệ nào đó tạo nên một nhận thức mới về thế giới hoặc một phương thức hành động mới. Sự liên kết lôgic mang đến sự nhận thức đúng đắn về thế giới hoặc một phương thức hành động có kết quả đúng đắn. Sự liên kết không lôgic sẽ đem đến sự vô nghĩa, sự nhận thức sai lầm hoặc phương thức hành động mang đến kết quả tiêu cực. Tư duy tổng hợp phát triển đến trình độ cao sẽ có khả năng tóm tắt, khái quát hoá. Khái quát hoá là sự tóm lược đến mức cô đọng nhất các yếu tố cơ bản, các mối quan hệ chính của đối tượng nhưng không làm mất đi các tính chất của đối tượng, đối tượng không bị hiểu sai. Khái quát hoá có vai trò quan trọng khi các đối tượng có rất nhiều yếu tố cấu thành, có mối quan hệ phức tạp, lượng trí thức là quá lớn so với khả năng ghi nhớ của bộ não. Bộ não cần biết về sự tồn tại, vai trò và một số đặc điểm, tính chất của đối tượng, nếu ghi nhớ đầy đủ các yếu tố của một đối tượng thì bộ nhớ của não sẽ không còn đủ chỗ cho việc ghi nhớ về các đối tượng khác và do đó sẽ hạn chế một số khả năng tư duy. Sử dụng thêm các phương pháp ghi nhớ ngoài để ghi nhớ đầy đủ các yếu tố của đối tượng là sự hỗ trợ tốt cho tư duy.

Trong các loại tư duy trên đây thì ba loại nêu trước mang tính cá thể, chúng thể hiện cho năng lực cá nhân và mang tính bẩm sinh. Chúng không lệ thuộc vào kinh nghiệm hay lượng tri thức được tích luỹ. Kinh nghiệm và tri thức mà hệ thần kinh tích luỹ được chỉ là cơ hội cho chúng được thực hiện.. Hai loại tư duy sau vừa chứa đựng yếu tố thuộc về cá nhân, vừa chứa đựng các yếu tố thuộc về môi trường sống (và chủ yếu là môi trường văn hoá giáo dục). Yếu tố thuộc về cá nhân mang tính sinh học giống như ba loại tư duy trên nhưng thể hiện chủ yếu trên phương diện liên kết các phần tử ghi nhớ các yếu tố của các đối tượng với hệ thống giác quan. Khi các phần tử nhớ có liên hệ trực tiếp với các giác quan thì chúng dễ được kích hoạt bởi kích thích đến từ các giác quan. Nếu chúng thuộc nhiều đối tượng khác nhau thì chúng sẽ được kích hoạt đồng thời. Sự hoạt động này dễ tạo ra các mối liên hệ giữa các đối tượng khác nhau và quá trình tư duy dựa trên các liên kết này sẽ trải qua nhiều đối tượng, xem xét trên nhiều đối tượng và tư duy tổng hợp hình thành. Nếu các yếu tố của đối tượng không có liên hệ trực tiếp với các giác quan và chúng chỉ được kích hoạt bởi các phần tử ghi nhớ mới khác thì khi có một yếu tố của đối tượng được kích hoạt, các yếu tố khác trong cùng đối tượng hoặc các yếu tố có quan hệ trong các đối tượng khác được kích hoạt. Đây là quá trình tư duy phân tích bởi nó được thực hiện chủ yếu trên một đối tượng. Ảnh hưởng của môi trường thể hiện qua phương thức thức tích luỹ kinh nghiệm, tích lũy tri thức trong hệ thần kinh, nếu phương thức tích luỹ tạo ra liên kết giữa các yếu tố của cùng đối tượng hoặc các yếu tố khác có liên quan thì dẫn đến khả năng tư duy phân tích, còn nếu phương thức tích luỹ tạo ra các liên kết giữa các đối tượng khác nhau thì dẫn đến khả năng tư duy tổng hợp.

Phân loại theo tính chất

  • Tư duy rộng hay hẹp. Tư duy rộng hay hẹp (còn gọi là tư duy theo chiều rộng hay tư duy theo diện) được đánh giá qua số lượng các đối tượng, các vấn đề, các sự vật, sự việc khác nhau được đề cập trong một quá trình tư duy. Tính chất rộng hẹp của tư duy cho thấy mức độ xem xét đối tượng tư duy trong mối quan hệ với các đối tượng khác, trong các môi trường khác là nhiều hay ít. Đối tượng được xem xét kỹ càng hơn, đánh giá đúng đắn hơn về sự cân đối, hài hoà với các đối tượng khác, với môi trường khi tư duy tìm được càng nhiều các đối tượng có quan hệ tương hỗ với nó. Tư duy rộng cũng làm cho việc tiếp nhận những tri thức, kinh nghiệm mới, những sự thay đổi trong tư duy trở nên dễ dàng, tính sáng tạo dễ được thực hiện. Điều kiện để có tư duy rộng là hệ thần kinh phải được tiếp nhận tri thức về rất nhiều đối tượng khác nhau và phải tạo được những mối liên hệ giữa các đối tượng đó. Một đối tượng có thể phát huy hay hạn chế một số đặc điểm, tính chất, vai trò nào đó trong một số mối quan hệ với các đối tượng khác. Vì vậy khi cần phát huy hay hạn chế một số yếu tố nào đó của đối tượng, có thể đặt đối tượng vào những mối quan hệ tượng ứng. Nếu tư duy chỉ xác định được một số mối quan hệ nào đó (tư duy hẹp) thì đối tượng chỉ có thể phát huy hoặc bị hạn chế một số yếu tố tương ứng.
  • Tư duy sâu hay nông. Loại tư duy này được đánh giá qua số lượng các yếu tố của một hay một nhóm đối tượng có liên quan trực tiếp được đề cập đến trong quá trình tư duy. Tư duy càng sâu khi các yếu tố của đối tượng được đề cập đến càng nhiều và khi đó đối tượng sẽ trở nên rõ ràng hơn, đầy đủ hơn trong nhận thức và ý thức, đối tượng được hiểu rõ hơn và đúng hơn. Tính chất tư duy sâu hay nông được thực hiện trên một hoặc một nhóm đối tượng, vì vậy tính chất này cũng được gọi là tư duy theo chiều sâu và có các khái niệm tư duy nông cạn hay sâu sắc và vai trò của tư duy cũng được thể hiện trong từng trường hợp cụ thể. Tư duy theo chiều sâu chịu ảnh hưởng của phương pháp thiết lập các mối liên kết thần kinh và . Nếu liên kết thực hiện chủ yếu giữa các yếu tố của đối tượng thì tư duy càng sâu khi có nhiều yếu tố được liên kết với nhau. Kích thích thần kinh được di chuyển từ các phần từ ghi nhớ này đến phần tử ghi nhớ khác trong não mà không cần có nhiều kích thích đến từ hệ thống cảm giác. Tư duy theo chiều sâu tạo nên sự tập trung trong tư duy.
  • Tư duy lôgic. Tư duy lôgic là tư duy về mối quan hệ nhân quả mang tính tất yếu, tính quy luật. Vì vậy các yếu tố, đối tượng (gọi chung là các yếu tố) trong tư duy lôgic bắt buộc phải có quan hệ với nhau, trong đó có yếu tố là nguyên nhân, là tiền đề, yếu tố còn lại là kết quả, là kết luận.
  • Tư duy phi lôgic. Tư duy phi lôgic là tư duy không dựa trên các mối quan hệ giữa các yếu tố của đối tượng hoặc giữa các đối tượng. Các yếu tố không thuộc đối tượng nhưng được gán cho đối tượng, các đối tượng không có quan hệ với nhau bị buộc cho những quan hệ nào đó và ngược lại những yếu tố thuộc đối tượng lại bị tách khỏi đối tượng, một số mối quan hệ tất yếu giữa các đôi stượng bị cắt bỏ. Tư duy phi lôgic có nguồn gốc từ sự lôgic của tư duy. Lôgic của tư duy là sự kết nối có những biểu hiện của lôgic. Lôgic của tư duy xuất hiện khi sự trùng lặp xuất hiện nhiều lần. Nếu sự trùng lặp mang tính quy luật thì tư duy theo sự trùng lặp này là tư duy lôgic. Nhưng nếu sự trùng lặp là kết quả của những quá trình riêng rẽ và không ảnh hưởng đến nhau thì tư duy sẽ là phi lôgic nếu tư duy gán cho các quá trình này những mối quan hệ. Đây là hậu quả của sự xuất hiện các liên kết thần kinh giữa các phần từ nhớ cùng được hình thành tại một thời điểm hoặc đang cùng được kích hoạt hoặc có những yếu tố để chúng dễ dàng liên kết với nhau. Tư duy phi lôgic xét trong một số giới hạn hay trường hợp cụ thể cũng biểu hiện đầy đủ tính chất của tư duy lôgic, do đó chúng tạo khó khăn khi phân biệt chúng với tư duy lôgic.
  • Tư duy đơn giản hay phức tạp. Tính đơn giản hay phức tạp biểu hiện ở số lượng các yếu tố, các đối tượng, các mối quan hệ, các mối liên kết xuất hiện trong một quá trình tư duy. Số lượng càng lớn thì quá trinhg tư duy càng phức tạp. Tính chất này biểu hiện cho khả năng tư duy của cá nhân và phụ thuộc vào hai yếu tố: Phương thức hoạt động thần kinh và số lượng các yếu tố, các đối tượng, kinh nghiệm, tri thức mà bộ não ghi nhớ được. Với cùng một lượng tri thức được ghi nhớ, hệ thần kinh hoạt động trí tuệ sẽ có tư duy phức tạp hơn bới nó có thể tạo ra nhiều liên kết thần kinh hơn so với hệ thần kinh có phương thức phản ứng thần kinh. Nhưng nếu lượng tri thức thấp thì tư duy trí tuệ cũng không thể có được tư duy tốt. Tính phức tạp nói chung là biểu hiện của tư duy tốt, nhưng nếu phức tạp dẫn đến tình trạng không thể trình bày hay thể hiện ra được thì cũng không hay gì bởi sẽ không có ai hiểu và tiếp nhận được quá trình tư duy đó.
  • Tư duy lý luận. Nếu tư duy lôgic xem xét các đối tượng trong mối quan hệ nhân quả, một chiều từ nguyên nhân tới kết quả thì tư duy lý luận xem xét mọi nguyên nhân dẫn đến cùng một kết quả và ngược lại, từ kết quả tìm đến các nguyên nhân, xem xét ảnh hưởng của sự kết hợp các nguyên nhân tới kết quả. Tư duy lý luận chỉ ra mọi yếu tố đã có và có thể có của đối tượng, chỉ ra các mối quan hệ đã có và có thể có giữa các đối tượng. Tư duy lý luận xem xét đối tượng trên mọi góc độ, mọi khía cạnh và theo chiều sâu của đối tượng. Tư duy lôgic có thể được thể hiện bằng hình ảnh hoặc bằng lời văn, còn tư duy lí luận chỉ được thể hiện bằng lời văn, điều này có nghĩa là tư duy lý luận chỉ có thể được thực hiện bằng lời văn. Tư duy lý luận là sự phát triển cao nhất của các quá trình tư duy.

Phân loại theo nội dung

Phân loại theo nội dung là phân loại dựa trên các nội dung, phương pháp, phạm vi tư duy và các điều kiện về tư duy. Theo cách phân loại này, tư duy có rất nhiều loại và cũng không khó cho việc đặt tên. dưới đây là một số loại:

  • Tư duy khoa học. Tư duy khoa học là tư duy có mục đích đảm bảo sự chính xác, hợp với các quy luật tư nhiên và dựa trên các chứng cứ xác thực. Vì vậy tư duy khoa học là tư duy lôgic biện chứng duy vật. Yêu cầu đối với tư duy khoa học là các kết luận của tư duy khoa học phải kiểm chứng được và được kiểm chứng. Khoa học nghiên cứu sâu về từng hiện tượng, sự vật và các mối quan hệ trực tiếp, vì vậy tính chất chủ yếu của tư duy khoa học là phân tích, hay đặc trưng của tư duy khoa học là tư duy phân tích.
  • Tư duy nghệ thuật. Tư duy nghệ thuật là tư duy tìm kiếm mọi hình thức thể hiện của nội dung các sự vật, sự việc, các vấn đề, nói chung là nội dung của các đối tượng tư duy và tìm những cách thể hiện rõ nhất, đặc trưng nhất, đầy đủ nhất, ấn tượng nhất của các nội dung đó. Nếu nói chức năng của khoa học là tìm kiếm các yếu tố, các mối quan hệ của đối tượng thì có thể nói khoa học đi tìm nội dung của các đối tượng đó, còn nghệ thuật lại tìm kiếm các hình thức thể hiện của các đối tượng đó. Sự tiến triển của lịch sử đã làm cho nghệ thuật chỉ tập chung vào chức năng tìm kiếm cách thể hiện ấn tượng nhất, nghĩa là thể hiện cái đẹp. Hai thủ pháp chính để nghệ thuật thể hiện cái đẹp là đặt cái đẹp lên vị trí cao nhất và đặt cái đẹp vào vị trí tương phản với cái xấu. Tư duy khoa học và tư duy nghệ thuật có mối quan hệ chặt chẽ. Nếu không tìm được nội dung thì nghệ thuật chẳng có gì để thể hiện, ngược lại nếu khoa học không biết cách để thể hiện những cái mà khoa học tìm ra thì chẳng ai có thể biết hoặc hiểu đó là cái gì và nó như thế nào. Tư duy nghệ thuật cũng còn liên quan đến nhiều loại hình tư duy khác.
  • Tư duy triết học. tư duy xem xét các yếu tố, các đối tượng trên mọi mối quan hệ, cả trực tiếp và gián tiếp. Đặc trưng của tư duy triết học là tư duy tổng hợp. Yêu cầu đặt ra cho quá trình tư duy triết học là phải đặt các đối tượng tư duy trong môi trường thực vận động của nó xem xét đồng thời nhiều đối tượng hoặc một đối tượng trong nhiều môi trường khác nhau để tìm ra cái chung nhất, mối quan hệ phổ biến nhất giữa các đối tượng hoặc cái đặc trưng nhất của đối tượng. Với đặc trưng của tư duy khoa học là phân tích và của tư duy triết học là tổng hợp, khoa học và triết học ngày nay có mối quan hệ khăng khít và bổ xung cho nhau trong quá trình nhận thức thế giới (quan niệm này trước đây chưa có)
  • Tư duy tín ngưỡng. Tư duy tín ngưỡng là tư duy dựa trên niềm tin không dựa trên các cơ sở khoa học. Niềm tin xuất hiện trên cơ sở những giải thích hợp lý trong một phạm vi nào đó về các hiện tượng. Có các niềm tin dựa trên các giải thích của khoa học và có các niềm tin không cần các cơ sở khoa học mà chỉ cần tạo nên một chỗ dựa tinh thần. Loại niềm tin thứ hai này tạo nên tín ngưỡng. Tìm chỗ dựa cho tư duy là nhu cầu của con người trước các nguy cơ đe dọa đến sự sinh tồn. Khi khoa học chưa đủ sức hoặc chưa thâm nhập sâu vào đời sống của từng cá nhân thì tất yếu tư duy phải tìm đến chỗ dưa tinh thần là tín ngưỡng. Tư duy tín ngưỡng chủ yếu nhằm đạt đến sự cân bằng trong đời sống tinh thần, giảm căng thẳng cho hoạt động thần kinh và không sử dụng được trong nghiên cứu khoa học. Nhưng nếu tư duy tín ngưỡng chuyển thành tư duy mê tín tìn kết quả có thể làm cho hoạt động thần kinh trở nên căng thẳng. Định hướng tư duy tín ngưỡng cũng là một việc quan trọng.

Cần phân biệt giữa các loại tư duy theo phân loại này với các lĩnh vực mà chúng thực hiện. Tư duy theo phân loại này, ngoài sự liên quan đến nội dung, nó còn có ý nghĩa về phương pháp. Vì vậy có thể áp dụng loại hình tư duy này vào các lĩnh vực khác, ví dụ có thể áp dụng tư duy triết học trong nghiên cứu khoa học và ngược lại. Không bắt buộc loại tư duy nào thì chỉ thực hiện trong lĩnh vực đó. Có thể kết hợp nhiều loại hình tư duy để tìm được kết quả tốt nhất và nhanh nhất.

Điều kiện của tư duy

Tư duy là hoạt động cao cấp của hệ thần kinh và để thực hiện được tư duy cần có những điều kiện. Có các điều kiện cơ bản và điều kiện riêng cho từng loại hình tư duy.

@@Điều kiện cơ bản:

  • – Hệ thần kinh phải có năng lực tư duy. Đây là điều kiện tiên quyết, điều kiện về bản thể. Thiếu điều kiện này thì không có tư duy nào được thực hiện. Năng lực tư duy thể hiện ở ba loại hình tư duy là kinh nghiệm, sáng tạo và trí tuệ. Ba loại hình tư duy này mang tính bẩm sinh nhưng có thể bị biến đổi trong quá trình sinh trưởng theo xu hướng giảm dần từ trí tuệ xuống kinh nghiệm, nhưng sự bộc lộ của chúng lại theo chiều hướng ngược lại. đây là biểu hiện của mối quan hệ giữa năng lực bẩm sinh với môi trường sống và trực tiếp là môi trường kinh nghiệm.
  • – Hệ thần kinh đã được tiếp nhận kinh nghiệm, tiếp nhận tri thức. Đây là điều kiện qua trọng. Không có kinh nghiệm, không có tri thức thì các quá trình tư duy không có cơ sở để vận hành. Kinh nghiệm, tri thức là tài nguyên cho các quá trình tư duy khai thác, chế biến. Để tư duy tốt hơn thì nguồn tài nguyên này cũng cần nhiều hơn. Học hỏi không ngừng sẽ giúp tư duy phát triển.
  • @@Điều kiện riêng.
  • Điều kiện riêng được đặt ra nhằm giúp cho mỗi loại hình tư duy thực hiện được và thực hiện tốt nhất. Ví dụ muốn có tư duy về lĩnh vực vật lý thì hệ thần kinh phải có các kiến thức về vật lý. Muốn tư duy về lĩnh vực nào thì phải có kinh nghiệm, tri thức về lĩnh vực đó. Muốn có tư duy lý luận thì phải có sự kết hợp giữa năng lực tư duy trí tuệ với tư duy triết học và tri thức về triết học…

Ngoài các điều kiện trên đây còn có các điều kiện yêu cầu buộc phải tư duy và có phương pháp tư duy thích hợp. Không ai muốn tư duy khi tư duy là gánh nặng cho hoạt động thần kinh trừ trường hợp tư duy là niềm vui, là khát khao sống của họ. Vì vậy để có tư duy cũng cần phải giao trách nhiệm thực hiện công việc cần tư duy. Phương pháp tư duy kích thích sự hính thành quá trình tư duy và nâng cao hiệu quả tư duy. Tư duy là một vấn đề phức tạp, nghiên cứu về tư duy cần nhiều thời gian và công sức. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tư duy nhưng các ý kiến vẫn còn chưa có sự thống nhất. Bạn đọc có thể dễ dàng tìm kiếm các bài viết, các công trình nghiên cứu về tư duy trên mạng bằng việc gõ từ khóa vào các công cụ tìm kiếm. Các vấn đề nêu trong bài viết này mới chỉ là những mảng tường thô đầu tiên của một công trình xem xét tư duy mang tính toàn diện trên cả hai mặt bản thể luận và nhận thức luận (trước đây chỉ có mặt nhận thức luận). Nó còn cần nhiều nghiên cứu hơn, cần nhiều bàn luận hơn để nó trở nên sáng tỏ hơn.


Các bài có liên quan:

Vai trò của liên kết ghi nhớ trong hoạt động thần kinh

GLAUCOMA (CƯỜM NƯỚC)

I. GLAUCOMA

Glaucoma là từ dùng để chỉ một số bệnh về mắt có thể gây ảnh hưởng đến dây thần kinh thị giác và gây mù. Hầu hết, nhưng không phải là tất cả, các bệnh glaucoma thường tạo ra một tình trạng tăng áp lực bên trong mắt, còn được gọi là tình trạng tăng áp lực nội nhãn. Áp lực nội nhãn bình thường được tính bằng milimet thủy ngân và có trị số từ 10 – 21 mm Hg. Tăng áp lực nội nhãn là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất gây ra bệnh glaucoma.

Tình trạng tăng áp lực nội nhãn đôi khi còn được gọi là tình trạng tăng nhãn áp. Khi bác sĩ chẩn đoán bạn bị tăng nhãn áp không có nghĩa là bạn đã bị bệnh glaucoma mà điều đó có nghĩa là bạn đang có nguy cơ cao bị glaucoma mà thôi, do đó bạn nên được khám mắt thường xuyên bởi một bác sĩ nhãn khoa.

Một nửa số người bị glaucoma thường không biết mình bị bệnh cho đến khi thị lực của họ bị giảm trầm trọng.

Có nhiều yếu tố có liên quan đến sự gia tăng nguy cơ bị glaucoma, trong đó có một số yếu tố sau: tăng nhãn áp, tiền sử gia đình, chủng tộc và tuổi tác.

  • Có 2 loại glaucoma là góc đóng và góc mở.
    • Ở bệnh glaucoma góc đóng, những ống dẫn lưu bình thường bên trong mắt bị tắc nghẽn một cách cơ học. Glaucoma góc đóng có thể cấp tính (xuất hiện đột ngột) hoặc mạn tính (kéo dài). Ở bệnh glaucoma góc đóng cấp tính có sự gia tăng áp lực nội nhãn đột ngột do sự tích tụ thủy dịch bên trong mắt. Bệnh glaucoma góc đóng cấp tính được xem là một tình trạng cấp cứu do có thể gây ra tổn thương dây thần kinh thị và mù trong vòng vài giờ khởi phát. Bệnh glaucoma góc đóng mạn tính có thể gây tổn thương thị giác mà không có triệu chứng nào cả.
    • Ở bệnh glaucoma góc mở, hệ thống dẫn lưu vẫn còn thông thoáng. Bệnh glaucoma góc mở cũng có thể gây tổn thương thị giác mà không có triệu chứng nào cả.
  • Thể bệnh glaucoma với nhãn áp bình thường hoặc thấp là thể hiếm gặp và vẫn chưa được hiểu rõ. Ở thể này, dây thần kinh thị giác bị tổn thương ngay cả khi áp lực nội nhãn vẫn nằm trong giới hạn được xem là bình thường.
  • Thể bệnh glaucoma trẻ em hiếm gặp và có thể xảy ra ở lứa tuổi nhũ nhi, trẻ nhỏ hoặc tuổi dậy thì. Bệnh tương tự như glaucoma góc mở và có rất ít triệu chứng vào giai đoạn sớm của bệnh. Bệnh có thể dẫn đến mù mắt nếu không được điều trị. Giống như hầu hết các dạng glaucoma khác, thể bệnh glaucoma ở trẻ em được cho là do di truyền.
  • Thể glaucoma di truyền là loại xuất hiện ở trẻ em thường ở giai đoạn sớm ngay sau khi sinh, nó cũng có thể xuất hiện trễ hơn mãi đến sau khi trẻ được 1 tuổi. Không giống như thể glaucoma trẻ em, glaucoma di truyền thường có những dấu hiệu gây chú ý như chảy nước mắt, nhạy cảm với ánh sáng và giác mạc bị đục. Dạng này thường gặp hơn ở trẻ nam và có thể xảy ra ở một hoặc hai mắt.
  • Thể glaucoma thứ phát là tình trạng tăng áp lực nội nhãn do bất thường cấu trúc bên trong mắt. Thể bệnh này có thể là kết quả của tình trạng chấn thương mắt hoặc một số bệnh khác và cách điều trị là hướng đến việc điều trị những nguyên nhân gây ra cũng như làm giảm tình trạng tăng nhãn áp.

II. NGUYÊN NHÂN

Glaucoma có liên quan đến tình trang gia tăng áp lực bên trong mắt. Ở trong mắt bình thường, có một loại dịch được gọi là thủy dịch được sản xuất ở hậu phòng và chảy xuyên qua đồng tử đi vào tiền phòng. Khi đi đến tiền phòng (vùng trước của mắt), thủy dịch sẽ được dẫn lưu ra khỏi mắt qua các ống Schlemm. Thủy dịch có chức năng củng cố làm vững chắc cấu trúc của mắt và cung cấp oxy cùng với chất dinh dưỡng cho các mô bên trong mắt.

  • Tăng áp lực nội nhãn là kết quả của sự tăng sản xuất hoặc giảm dẫn lựu thủy dịch. Tăng áp lực bên trong mắt cuối cùng có thể dẫn đến hậu quả là tổn thương dây thần kinh thị giác. Tăng áp lực nội nhãn là yếu tố nguy cơ gây mù do glaucoma thường gặp nhất, nhưng nó không phải là yếu tố nguy cơ duy nhất.
  • Trong nhiều năm qua, người ta đã tin rằng áp lực nội nhãn cao là nguyên nhân tiên phát gây tổn thương dây thần kinh thị trong glaucoma. Hiện nay, chúng ta đã biết rằng ngay cả những người có áp lực nội nhãn bình thường cũng có thể bị mù do glaucoma. Ngoài ra, một số người có áp lực nội nhãn cao lại không bao giờ bị tổn thương dây thần kinh thị do glaucoma. Do đó, có thể có những yếu tố khác ảnh hưởng đến dây thần kinh thị giác ngay cả khi áp lực nội nhãn nằm trong giới hạn bình thường.
  • Tuy nhiên, tăng áp lực nội nhãn hiện nay vẫn còn được xem là yếu tố nguy cơ chính của bệnh glaucoma do có nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng áp lực nội nhãn càng cao thì dây thần kinh thị càng có nhiều nguy cơ bị tổn thương.
  • Không ai hiểu được tại sao một số chủng tộc, chẳng hạn như người Mỹ gốc Phi, lại có tỷ lệ bị bệnh glaucoma dẫn đến mù lòa cao hơn những chủng tộc khác. Glaucoma góc mở nguyên phát là nguyên nhân gây mù cao nhất trong số những người Mỹ gốc Phi và những người ở vùng Alaska, cao gấp 6-8 lần so với những người da trắng và thường xảy ra vào lúc trẻ hơn.

III. TRIỆU CHỨNG

Hầu hết những người bị glaucoma không nhận thấy triệu chứng cho đến khi thị lực bị suy giảm đáng kể. Do các sợi thần kinh thị bị tổn thương, những điểm mù nhỏ bắt đầu phát triển, thường nằm ở vùng ngoại vi hoặc phía bên cánh của tầm nhìn. Nếu toàn bộ dây thần kinh thị bị tiêu hủy sẽ gây ra mù.

Những triệu chứng khác thường liên quan đến sự gia tăng áp lực nội nhãn một cách đột ngột, đặc biệt ở thể glaucoma góc đóng cấp tính, và có thể gây nhìn mờ, nhìn thấy quầng sáng xung quanh, đau mắt nặng nề, nhức đầu, đau bụng, buồn nôn và nôn.

IV. ĐIỀU TRỊ

Tại nhà

Bác sĩ sẽ cho thuốc để làm  giảm áp lực nội nhãn của bệnh nhân. Cách duy nhất để chắc chắn thuốc có tác dụng là uống theo toa.

Tại bệnh viện

Mục đích điều trị là nhằm làm giảm áp lực nội nhãn bằng cách giảm sản xuất hoặc tăng đào thải thủy dịch. Tùy thuộc vào thể glaucoma mà có thể lựa chọn điều trị bằng thuốc hay phẫu thuật. Áp lực nội nhãn thường có thể được hạ thấp bằng các loại thuốc khác nhau dưới dạng thuốc nhỏ mắt và thuốc uống hoặc thuốc tiêm tĩnh mạch.

Dùng thuốc

Thuốc chẹn beta, thuốc đồng vận alpha-adrenergic và thuốc tương tự prostaglandin là một số thuốc thường được dùng nhất.

  • Thuốc chẹn beta, chẳng hạn như timolol (Timoptic), có thể làm giảm lượng thủy dịch được sản xuất ra.
  • Đồng vận alpha-adrenergic, chẳng hạn như brimonidine (Alphagan), làm giảm sản xuất thủy dịch đồng thời tăng dẫn lưu thủy dịch ra ngoài.
  • Một nhóm khác là thuốc tương tự prostaglandin mới được dùng gần đây. Một trong số các loại có thể được kê toa là latanoprost (Xalatan). Chúng có tác dụng gần khu vực dẫn lưu bên trong mắt để tạo ra đường dẫn lưu thứ phát thủy dịch ra khỏi mắt nhằm giảm áp lực nội nhãn.

Phẫu thuật

Trong một số trường hợp có thể cần phải phẫu thuật.

  • Nếu bạn bị glaucoma góc đóng, bạn cần phải được thực hiện phẫu thuật cắt mống mắt. Người ta sẽ tạo một lỗ dẫn lưu ở mống mắt để giải phóng áp lực bên trong mắt. Kỹ thuật này có thể được thực hiện bằng lazer, do đó có thể không cần phải rạch vào mắt. Bạn có thể quyết định lựa chọn phẫu thuật cắt mống mắt sau giai đoạn cấp của glaucoma góc đóng hoặc để phòng ngừa cơn cấp tính của glaucoma góc đóng.
  • Bình thường thì thuốc không có tác dụng tốt đối với glaucoma bẩm sinh do đó thường phải cần đến phẫu thuật.
  • Một số dạng khác của phẫu thuật điều trị glaucoma là tạo hình vùng bè, đông hóa thể mi (cyclophotocoagulation), và lọc. Tất cả những thủ thuật trên đều có mục đích làm sự dẫn lưu thủy dịch được dễ dàng hơn ở những mắt bị ảnh hưởng để làm giảm áp lực nội nhãn. Bạn có thể trao đổi với bác sĩ mắt để hiểu rõ hơn về những phương pháp này.

V. KHI NÀO CẦN ĐI KHÁM

Gọi cho bác sĩ ngay lập tức nếu như bạn bị đau mắt nặng hoặc đột ngột không nhìn thấy đường, đặc biệt là không nhìn thấy ở vùng ngoại vi hoặc phía bên cánh của thị trường.

Nhiều loại thuốc dùng để điều trị glaucoma có thể có tác dụng phụ, có thể là cay hoặc đỏ mắt, nhìn mờ, nhức đầu, hoặc thay đổi nhịp tim, nhịp mạch hoặc nhịp thở. Hầu hết các tác dụng phụ không nghiêm trọng và có thể khỏi một cách dễ dàng. Không phải ai cũng bị tác dụng phụ từ thuốc nhưng hãy lưu ý với bác sĩ nếu bạn cảm thấy mình có bất kỳ triệu chứng nào kể trên.

Với thể glaucoma góc đóng, sự gia tăng áp lực nội nhãn một cách nhanh chóng có thể dẫn đến nhìn mờ, nhức mắt nặng nề, đau đầu, đau bụng, buồn nôn và nôn. Tuy thế glaucoma góc đóng hiếm gặp nhưng nó là một thể bệnh nặng và trừ phi được điều trị nhanh chóng nếu không sẽ gây mù. nếu bạn có những triệu chứng trên, hay đi khám ngay lập tức để được đánh giá và điều trị đúng để phòng ngừa không bị mù vĩnh viễn.

VI. CÁC PHƯƠNG PHÁP KHÁM

Có nhiều phương pháp khác nhau được dùng để đo áp lực bên trong mắt. Một số phương pháp khác dùng để xác định xem bạn có bị glaucoma hay không và mức độ tiến triển của bệnh. Hầu hết các phương pháp chẩn đoán bệnh cần phải được lập lại theo một chu kỳ nhất định để theo dõi sự hiện diện và tiến triển của bệnh.

  • Phương pháp thổi hơi: đây là phương pháp thông dụng nhất dùng để đo áp lực nội nhãn mà không cần chạm vào mắt. Khi thực hiện, bạn sẽ được ngồi trước máy, tựa cằm vào trụ chống. Bác sĩ mắt sẽ điểm một vòi nhỏ trực tiếp vào mắt để từ đó thổi nhanh một luồng hơi lên bề mặt mắt. Bằng cách đo đạc sự đáp ứng của mắt đối với luồng hơi đó, bác sĩ có thể xác định được một khoảng giá trị gần đúng của áp lực nội nhãn. Đây là phương pháp dùng để tầm soát tình trạng tăng áp lực nội nhãn tốt, nhưng mức độ chính xác của nó không cao.
  • Đo áp kế trực tiếp: trên bề mặt của vùng phía trước mắt cho kết quả chính xác hơn nhiều. Tuy nhiên, để thực hiện nó cần phải có kỹ năng và chuyên môn cao hơn. Một cảm ứng được đặt nhẹ nhàng lên bề mặt của mắt đã được gây tê, sau đó áp lực nội nhãn sẽ được đo một cách rất chính xác.
  • Giãn đồng tử: là phương pháp kiểm tra phần phía sau của mắt qua đồng tử bị giãn cần thiết để chẩn đoán bệnh glaucoma. Để làm được điều này, người ta sẽ nhỏ thướng vào mắt để làm đồng tử nở lớn, hoặc dãn ra, nhờ vậy bác sĩ có thể nhìn thấy bên trong mắt rõ hơn. Bác sĩ có thể phát hiện ra được sự đè ép lên dây thần kinh thị bên trong mắt gây ra do tăng áp lực nội nhãn. Sự phì đại ở phía đầu dây thần kinh thị do áp lực biểu hiện tình trạng đã diễn tiến đến mức tương đối nặng nề.
  • Đo thị trường: được dùng để tìm ra sự hiện diện những vùng suy giảm của thị trường, đặc biệt là ở phần bên (còn được gọi là thị trường chu biên). Do những người bị glaucoma thường có khuynh hướng mất thị trường ở bờ ngoài vùng trung tâm nên việc kiểm tra thị trường chu biên là rất quan trọng. Trong phương pháp này, các bác sĩ sẽ dùng một loại máy để đo thị trường bệnh nhân. Bạn sẽ được yêu cầu nhìn vào một chuỗi ánh sáng nhấp nháy. Bằng cách ghi nhận trong lúc bạn nhìn, bác sĩ sẽ có được bản đồ chính xác về thị trường chu biên của bạn. Nếu bạn bị glaucoma, thị trường chu biên sẽ giảm. Phương pháp này có thể thực hiện để theo dõi bệnh hoặc để xác định độ nặng của bệnh trong lần chẩn đoán đầu tiên.

VII. NHỮNG BƯỚC KẾ TIẾP

Theo dõi

Trước khi rời khỏi bệnh việc hay phòng mạch bác sĩ, bạn hãy chắc chắn rằng mình đã có đủ những thông tin về các vấn đề sau:

  • Thuốc – dùng vào lúc nào và như thế nào.
  • Các dấu hiệu và triệu chứng – Những triệu chứng nào báo hiệu việc điều trị bằng thuốc là thất bại, những tác dụng phụ, hoặc những vấn đề khác.
  • Hạn chế – Những hoạt động nào bạn nên hạn chế và trong bao lâu.
  • Tái khám – Khi nào cần hẹn tái khám với bác sĩ để được kiểm tra lại và đo lại thị trường.

Phòng ngừa

Trong hầu hết các trường hợp, biện pháp phòng ngừa tốt nhất là phát hiện sớm. Nếu được phát hiện sớm sẽ tránh được hậu quả là giảm thị lực và mù lòa. Tất cả những người trên 20  tuổi đều nên được tầm soát glaucoma. Khám mắt định kỳ trong suốt phần đời còn lại sẽ giúp bạn phòng ngừa và phát hiện được bệnh glaucoma, đặc biệt là khi bạn có một số yếu tố nguy cơ như có tiền sử gia đình bị glaucoma.

Tiên lượng

Mặc dù glaucoma không thể trị khỏi nhưng nó có thể kiểm soát được. Những người bị glaucoma cần phải được khám mắt thường xuyên và thường cần phải được tiếp tục điều trị trong suốt phần đời còn lại.

  • Glaucoma cấp không điều trị sẽ dẫn đến mất thị lực vĩnh viễn. Glaucoma mạn tính không được điều trị có thể dẫn đến mù trong vòng 5, 7 năm.

Chẩn đoán và điều trị sớm thường sẽ cho kết quả tốt và giữ được thị lực. Tiên lượng đối với glaucoma thể bẩm sinh  tùy thuộc vào độ tuổi lúc phát hiện triệu chứng và mức độ đáp ứng của trẻ với điều trị.

THUỐC TIM MẠCH

Bisoprolol 2.5mg

Thành phần:
Mỗi viên nén bao phim chứa:

5mg bisoprolol fumarate.
Tá dược:

calclum hydrogen phosphate, microcrystalline cellulose,

lactose monohydrate, hydroxypropyl methyl cellulose,

macrogol 4000, magnesium stearate, croscarmellose sodlum,

maize starch, colloldal anhydrous sillica, ferric oxide, tlanium dioxlde.
Chỉ định:
– Tăng huyết áp
– Đau thắt ngực
– Suy tim
Chống chỉ định:
-Mẫn cảm với các thuốc chẹn beta hoặc một trong các thành phần khác của thuốc
-Suy tim mất bù, shock
-Block nhĩ thất độ 2 và độ 3
-Hội chứng suy nứt xoang
-Block xoang nhĩ
-Nhịp chậm (<50 nhịp/phút trước khi bắt đầu điều trị)
-Huyết áp thấp (huyết áp tâm thu < 90mm Hg)
-Nhiễm acid
-Tắc nghẽn đường hô hấp, hen phế quản
-Rối loạn tưới máu ngoại vi giai đoạn muộn
-Dùng đồng thời với các thuốc ức chế MAO
-Trẻ em
Không dùng các thuốc chẹn calci nhóm verapamil hoặc diltiazen hoặc các thuốc chống loạn nhịp khác qua đường tĩnh mạch cho bệnh nhân đang được điều trị bằng Bisohexal®.
Thận trọng:
-Block nhỉ thất độ 1
-Đái tháo đường
-Stress thực thể nặng và kéo dài
-Bệnh nhân bị u tế bào ưa crom
-Đau thắt ngực Prinzmetal
-Phụ nữ có thai và cho con bú
-Bệnh nhân bị bệnh vảy nến.
Tác dụng phụ:
Đôi khi xảy ra:
– Hạ huyết áp khi chuyển từ tư thế nằm sang tu thế đứng, nhịp chậm, rối loạn dẫn truyền nhĩ thất hoặc làm tăng tình trạng suy tim đi kèm với phù ngoại vi và/hoặc khó thở gắng sức.
– Giảm sự thèm ăn và rối loạn đường tiêu hóa
– Cảm giác khác thường và lạnh tay chân.
Cơ thể xuất hiện:
– Cơn khó thở ở bệnh nhân có xu hướng tăng phản ứng co thắt phế quản.

– Yếu cơ, chuột rút, rối loạn thần kinh trung ương như mệt mỏi, chóng mặt, đau đầu, rối loạn giấc ngủ, phản ứng dị ứng da.
Khi bị stress thực thể nặng, dùng Bisohexal® có thể làm tụt đường huyết.
Tương tác thuốc:

-Tác dụng hạ huyết áp của Bisohexal® có thể tăng lên bởi các thuốc hạ huyết áp khác, thuốc lợi tiểu, thuốc giãn mạch, barbiturate, phenothiazine và các thuốc chống trầm cảm 3 vòng.

-Dùng kết hợp Bisohexal® với các thuốc chẹn calci nhóm verapamil hoặc diltiazem hoặc các thuốc chống loạn nhịp khác, cần phải theo dõi bệnh nhân cẩn thận vì có thể xảy ra tụt huyết áp, nhịp chậm, hoặc loạn nhịp tim và/hoặc suy tim.
-Dùng kết hợp Bisohexal® với reserpin, alphamethyldopa, guanfacine, clonidine hoặc các glycoside tim có thể làm giảm tần số tim hơn nữa và làm chậm dẫn truyền trong tim.
-Dùng kết hợp với các dẫn chất ergotamine có thể làm nặng thêm sự rối loạn tưới màu ngoại vi.
-Dùng kết hợp Bisohexal® với insulin hoặc các thuốc điều trị đái tháo đường có thể làm tăng và kéo dài cũng như làm giảm tác dụng của chúng. Các dấu hiệu cảnh báo hạ đường huyết có thể bị che lấp hoặc giảm nhẹ đi.
-Tác dụng của Bisohexal® có thể tăng lên bởi cimetidine, hydralazine và alcohol.
Liều lượng và cách sử dụng:
Việc điều trị nên được bắt đầu với liều thấp và tăng liều lên từ từ.
Tăng huyết áp:
Liều hàng ngày 1 viên x 1 lần/ngày.
Trong trường hợp tăng huyết áp nhẹ chỉ cần dùng liều: 1/2 viên x 1 lần/ngày là đủ.
Đau thắt ngực:
Liều hàng ngày 1 viên x 1 lần/ngày
Liều lượng có thể tăng lên 2 viên x 1 lần/ngày nếu cần.
Đối với bệnh nhân bị suy gan và/hoặc suy thận ở mức độ trung bình, nói chung không cần thiết phải điều chỉnh liều lượng. Đối với những bệnh nhân suy thận tiến triển và những bệnh nhân bị rối loạn chức năng gan nặng, không được dùng quá 2 viên/ngày.
Suy tim:
Bắt đầu điều trị bằng liều thấp, liều khởi đầu thông thường là 1.25 mg x 1 lần/ngày. Sau đó tăng liều lên từ từ, thông thường sau 1-2 tuần. Nếu với liều 2.5 mg hoặc 5mg/ngày mà không đem lại hiệu quả như mong muốn có thể tăng liều tối đa 10mg x 1 lần/ngày.
Phương thức và thời gian dùng thuốc:
Uống thuốc với nhiều nước tốt nhất là khi đói vào buổi sáng hoặc uống cùng với bữa ăn sáng.
Thời gian điều trị không bị giới hạn, phụ thuộc vào từng loại bệnh và mức độ nặng nhẹ của bệnh.
Đặc biệt với những bệnh nhân bị đau thắt ngực không nên ngừng thuốc đột ngột, mà phải dừng một cách từ từ.
Đóng gói:
Hộp 3, 5, 10 vỉ x 10 viên nén bao phim.